Tin vui, tin vui
Tuần này có nhiều tin vui đến cùng lúc. Đầu tiên thầy Tiến thông báo đề cương nghiên cứu của nhóm đã được NSF đồng ý tài trợ. Mình rất vui vì 3 năm apply kiên cường vất vả của cả thầy và trò đã có kết quả tốt. Trong quá trình tham gia viết research proposal cùng thầy mình cũng học hỏi được một số kinh nghiệm, nhất là kinh nghiệm “quảng cáo” những thành tích đã có để “selling” những idea mới. Những lần apply trước, nhóm mình thường đưa ra những idea rất mới, nhưng vì không kết nối chúng được với những kết quả đã đạt được nên thường bị các reviewer kêu là “thiếu bằng chứng khả thi”.
Theo Tao Xie, một người rất thành công trong việc viết research proposal thì một đề cương khả thi cần phải kết nối với những kết quả trước đó của nhóm, giống như là một “big next step” từ những công trình trước. Trong proposal thành công vừa rồi, nhóm mình làm đúng như vậy. Dựa trên công trình của nhóm công bố tại FSE 2009 về mô hình biểu diễn chương trình dạng graph, nhóm đề xuất một số hướng phát triển tiếp theo, ví dụ như tìm các lỗi tương tự của các đoạn chương trình tương tự nhau, hoặc sinh test dựa trên biểu diễn đó của graph. Khi viết đề cương thì nhóm cũng thực hiện một số nội dung nghiên cứu trong đề cương để một số kết quả bước đầu rồi dùng các kết quả đó như là bằng chứng khả thi. Kết quả cuối cùng đã thuyết phục được review panel của NSF. Hơn nữa các kết quả đó còn được phát triển và công bố thành 2 bài báo ở ICSE 2010 và ASE 2010 của nhóm. Có lẽ nhờ thành tích nghiên cứu gần đây mà kì này nhóm mình được Tao Xie mời tham gia một đề cương cỡ lớn. Hi vọng là những thành tích đó cộng sự hợp tác với chuyên gia lớn như Tao Xie sẽ giúp nhóm tiếp tục thành công trong đề cương lần này.
Tin vui thứ hai là nhóm lại có một paper được nhận ở ICSE 2011. Paper này bị reject ở FSE 2010, nhưng sau một mùa hè cố gắng chỉnh sửa cả thực nghiệm và trình bày, cuối cùng paper đã được nhận. Vì ICSE có impact cao hơn FSE (có nhiều người tham dự hơn), năm nay lại tổ chức ở Hawaii nên bọn mình rất háo hức. Mình đang lên kế hoạch chuẩn bị một số submission cho các track khác của ICSE, hi vọng là sẽ có thêm nhiều cơ hội trình bày các ý tưởng và kết quả nghiên cứu của cả nhóm. Năm nay nhóm mình nộp 3 bài ICSE. Bài nào cũng có kết quả rất tốt nhưng ICSE thực sự cạnh tranh quá cao. Nghe nói nhóm Tao Xie nộp 5 bài mà cũng được chỉ nhận 1 bài. (Một điều bất ngờ ngoài sức tưởng tượng là nhóm Sung Kim nộp 5 bài và được nhận 3 bài). Hi vọng một ngày nào đó nhóm mình sẽ có những cú dup và hattrick như vậy.
Tin vui thứ ba là mình vừa được Microsoft mời làm internship trong mùa hè tới. Nghe nói nhóm mình sẽ tham gia làm về cloud computing service platform – một mảng business hiện đang khá hot và mình cũng đang rất thích tìm hiểu. Tuần trước mình đi dự FSE 2010, thấy cộng đồng nghiên cứu đang tập trung vào concurrent/distributed software systems rất nhiều. Mảng nghiên cứu này còn khá nhiều bài toán mở trong khi ứng dụng và sự quan tâm thì càng ngày càng nhiều, do sự phát triển của phần cứng (vd multi-core architecture) và của mạng và dịch vụ mạng (vd cloud computing). Từ trước đến nay mình không có nhiều kinh nghiệm từ industry nên thường chọn các bài toán do cộng đồng academia đang quan tâm để nghiên cứu. Hi vọng là trong quá trình làm internship, mình sẽ có cơ hội tìm hiểu cụ thể những vấn đề cần giải quyết liên quan đến cloud computing service nói riêng và concurrent/distributed software systems nói chung từ góc nhìn của industry.
Tuy nhiên được nhận làm developer intern tại Microsoft cũng là một thách thức lớn với mình. Thứ nhất là mình quen làm việc trong môi trường academia, nơi mà phong cách nghiên cứu và làm việc khá tự do, ít áp lực, có sai sót cũng không sao :p. Giờ chuyển sang làm việc ở một công ty phần mềm hàng đầu như Microsoft, có thể áp lực thành công sẽ rất lớn. Hơn nữa lâu rồi mình không viết code, bây giờ lại làm coder, có thể sẽ mất rất nhiều thời gian để học hỏi và rèn luyện. Nhưng dù sao mình cũng sẽ cố gắng. Trước khi làm PhD mình cũng không có chút kinh nghiệm nào về nghiên cứu ở đẳng cấp thế giới, thậm chí còn chưa viết một đoạn technical English hay một đoạn Java code bao giờ. Vậy mà bây giờ mọi thứ vẫn tốt đẹp.
Một tin vui nữa là mình được nhận Peer Research Award do Graduate and Professional Student Senate của trường mình trao tặng. Có được phần thưởng này phần lớn nhờ anh Hoàn và Jafar đã viết thư support cho mình.
Mình rất biết ơn những người đã đóng góp rất lớn vào những thành công của mình. Đầu tiên là Bupsen, nguồn động viên tinh thần vô tận của mình (thỉnh thoảng lại còn nhắc mình không làm việc quá nhiều đến mức kiệt sức). Hai bên gia đình thì luôn tin tưởng bọn mình. Thầy Tiến là người thầy tận tình và rất đồng cảm với mình. Thầy luôn ủng hộ những ý tưởng khoa học của mình và giúp mình gợi mở, chỉnh sửa chúng, từ ý tưởng chính cho đến từng câu chữ trong paper. Anh Hoàn, anh Tuấn Anh, em Nam, em Hưng, Jafar, Ahmed… là những cộng sự và những bạn đồng hành rất thân thiết của mình. Không có họ, những nghiên cứu của nhóm mình không thể hoàn thành với kết quả tốt được.
Thông báo và lời mời tham dự lễ cưới
Thông báo và lời mời tham dự lễ cưới
Sau một thời gian tìm hiểu, được sự ủng hộ và cho phép của gia đình hai bên, chúng tôi là Nguyễn Thanh Tùng và Trịnh Minh Hồng sẽ tổ chức hôn lễ vào Chủ nhật, ngày 25/4/2010 (tức là ngày 12 tháng 3 năm Canh Dần). Chúng tôi xin trân trọng kính mời các thầy cô, bạn bè đồng nghiệp, thành viên lớp K50E, sinh viên và cựu sinh viên khoa Công nghệ Thông tin, Đại học Sư phạm Hà Nội; các thầy cô và cựu thành viên lớp 12 chuyên Tin khối chuyên Toán-Tin, Đại học Sư phạm Hà Nội; thành viên Hội nghiên cứu sinh Quỹ Giáo dục Việt Nam (VEFFA); thành viên Câu lạc bộ Thủ khoa Hà Nội; thành viên Câu lạc bộ Olympia; thành viên và cựu thành viên Trung tâm Tài năng trẻ FPT (FYT), hội lưu học sinh Đại học Iowa State (VISA), cùng các bạn bè gần xa về dự và góp vui cùng hai bên gia đình chúng tôi.
Thời gian
Theo phong tục địa phương, hôn lễ được chuẩn bị từ ngày Thứ 6, 23/4 (tức là ngày 10/3 âm lịch). Ngày Thứ 7, 24/4 nhà trai đi đón dâu từ Quảng Ninh vào Thanh Hóa từ 3h sáng đến 6h chiều. Lễ cưới chính thức sẽ được tổ chức trọng thể từ 8h sáng ngày 25/4. Vì vậy quý khách có thể đến tham dự vào bất cứ thời gian nào từ Thứ 6 đến Chủ nhật.
Địa điểm
Hôn lễ sẽ được tổ chức ở nhà trai tại xóm Thượng, xã Phong Cốc, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh. Để tới địa điểm này, quý khách tới Thị trấn Quảng Yên (huyện Yên Hưng), vượt qua cầu sông Chanh đi 5km về phía Nam hỏi nhà ông Nguyễn Văn Thắng tại địa chỉ trên.
Nếu đi từ Hà Nội bằng phương tiện công cộng quý khách có thể:
- Đón xe đi Quảng Yên tại bến xe Mỹ Đình. Xe đỗ gần cổng ra của bến, chạy vào 1h và 2 rưỡi chiều hàng ngày.
- Đón xe đi Quảng Yên tại vườn hoa Lý Thái Tổ gần Hồ Hoàn Kiếm. Xe chạy vào 1h và 2h chiều hàng ngày.
- Đón xe đi Hạ Long (hoặc Cẩm Phả, Cửa Ông, Móng Cái…) tại các bến xe Mỹ Đình, Lương Yên, Giáp Bát…, tới Biểu Nghi (cây số 11) xuống xe đón xe bus Liên Vị – Cái Rồng về thị trấn Quảng Yên. Các hãng xe uy tín là Hoàng Long, Việt Thanh, Đức Phúc, Phúc Xuyên…
Nếu đi bằng phương tiện cá nhân quý khách có thể:
- Đi theo quốc lộ 5 xuống gần thành phố Hải Phòng, rẽ trái theo quốc lộ 10 ở ngã tư An Dương – Quán Toan, vượt qua cầu Bính tới Thủy Nguyên và qua phà Rừng để tới Quảng Yên (đây là lộ trình ngắn nhất). Quý khách cũng có thể rẽ trái ở ngã tư An Dương, vượt qua cầu Kiền và cầu Đá Bạc để tới Uông Bí, theo quốc lộ 18 tới Biểu Nghi và rẽ phải để về Quảng Yên (lộ trình này dài hơn nhưng không phải qua phà).
- Đi theo quốc lộ 18 tới Bắc Ninh, Phả Lại, Sao Đỏ, Đông Triều, Uông Bí rồi rẽ phải ở Biểu Nghi để về Quảng Yên (lộ trình này đường vắng và thẳng nhưng xa nhất).
Mọi chi tiết xin liên hệ Nguyễn Thanh Tùng tại số di động: 0165 8311 492. Rất trân trọng được đón tiếp. (Thông báo này thay cho giấy mời).
Ảnh cưới















Chân dung bằng thơ của các bạn lớp cấp 3
Tác giả bài này là Nguyễn Anh Quang, tục gọi là Quang trê. Bài thơ vẽ chân dung các thành viên lớp cấp 3 của mình (chuyên Tin K31, Khối chuyên Toán Tin, Đại học Sư phạm Hà Nội). Điều đặc biệt là các phác hoạ chân dung này được vẽ kiểu âm bản, có nghĩa là ngược lại với sự thật. Ví dụ như Quang trê thì to béo nhất lớp, thích nhạc rock và MU, tuy nhiên được tự hoạ là “da bọc lấy xương, Chỉ nghe nhạc nhẹ coi thường MU”. Hoặc Hải Thanh thì rất ham chơi điện tử (tutor của mình môn Starcarft study) thì được mô tả là “ghét điện tử nhất đời, Dù Star hay Quake có mời cũng không”. Vì thế đây là một bài thơ rất vui.
Chân dung lớp mình
Bây giờ bè bạn chia tay
Đọc trang viết cũ thấy hay vô cùng
Tự nhiên thi hứng bừng bừng
Thơ thì con cóc bạn xem chớ cười
Dẫu sao thơ cũng viết rồi
Nếu ai muốn biết xin ngồi nghe chung
Vô danh như thể Thanh Tùng
Mấy ai biết hắn đã từng Olym
Hà Phương tóc thẳng như kim
“Lối chơi đồng đội 10 Tin” là chàng
Nhỏ con như chị Thúy Hằng
Không thiết học tập chẳng ham hát hò
Đinh Vân có bệnh hay lo
Đi chơi về muộn mẹ cho ngủ đường
Học Hóa rất dốt là Dương
Đá bóng chẳng bị chấn thương bao giờ
Lê Hoàng rất ghét làm thơ
Đàn ông mạnh mẽ cao to lạnh lùng
Chẳng ai ẻo lả như Hùng
Được cái chữ đẹp cô từng ngợi khen
Tuấn Võ nhà đông anh em
Chân nghe yếu ớt sút xem nhẹ nhàng
Trọc đầu là chị Hồng Lam
Đôi mắt to sáng như nàng Triệu Vy
Còn Thủy yếu ớt, nhu mì
Trêu thì e lệ mắng thì rưng rưng
Việt Dũng con một con cưng
Lớp mình đá bóng xin đừng chơi trâu
Tuấn Anh nổi tiếng cứng đầu
Cả năm chẳng biết nói câu à ừ
Viết Linh dáng tựa cái lu
Chiều cao một mét đem trừ mười phân
Tiến Dũng lịch sự ân cần
Ham chơi bét lớp học chăm nhất trường
Anh Quang da bọc lấy xương
Chỉ nghe nhạc nhẹ coi thường MU
Thanh Hoài nổi tiếng là ngu
Thi trượt tốt nghiệp hu hu khóc thầm
Mai vui tính lại dễ gần
Mà ba năm chẳng một lần bị cưa
Thùy Hương thì vẫn như xưa
Miệng mồm liến thoắng mắt đưa tứ bề
Phan còi học Toán dốt ghê
Mới nhìn cũng biết máu mê chơi bời
Đức Hiếu lọc lõi già đời
Yêu đương nhăng nhít từ thời bé thơ
Ca hát Diệu rất thờ ơ
Tớ thấy nó chẳng hay ho tí nào
Hằng con cũng thuộc dạng cao
Nói năng đanh đá mày tao suốt ngày
Đình Trinh dốt nhất lớp này
Mai sau chắc chỉ đi cày mà thôi
Việt Anh có tiếng lôi thôi
Áo quần xộc xệch mưc bôi đầy người
Đăng Khoa vốn nổi tiếng lười
Đi học chỉ đến để cười với chơi
Thanh ghét điện tử nhất đời
Dù Star hay Quake có mời cũng không
Xuân Bình da dẻ trắng hồng
Đã chẳng đá bóng lại không đá cầu
Quang Minh nắn nót hàng đầu
Tớ tuy thấp bé nhưng NO vấn đề
Quang Tùng chẳng biết vẽ gì
Bia thì ít uống bóng thì ít rê
Chơi bời Huy chẳng ham mê
Ghét Thu như thể chưa hề ghét ai
Thu cao nhất khối mười hai
Hiền lành nhưng để tóc tai bù xù
Kiên cận có vẻ lù rù
Đi xe chỉ dám từ từ mà thôi
Lan Anh vừa dốt vừa lười
Ngoại hình xấu xí ít người theo cưa
Đấy là lớp tớ ngày xưa
Còn nhiều chuyện nữa tớ chưa kể vào
Bao giờ thi đỗ điểm cao
Tớ sẽ kể tiếp bạn nào cũng hay
Nhưng tớ nói nhỏ thế này
Thơ đây tớ viết khi bài chưa xong
Thế nên bí mật nghe không
Mẹ tớ mà biết là mông tớ bầm.
Thật đấy!
Tin vui đón Xuân (2)
Sau Tết, mình lại có thêm tin vui mừng Xuân. Hôm qua mình đã thi xong qualification exam, kết thúc bước đầu tiên của tiến trình PhD. Hai bước còn lại là: bảo vệ đề cương luận án (preliminary exam = dissertation proposal) và bảo vệ luận án (final exam = dissertation defendance).
Qualification exam là kì thi bắt buộc của nghiên cứu sinh ở đa số các trường ở Mỹ. (Một số khoa/trường – thường là rank thấp – không có kì thi này). Nhìn chung mục đích của qualification exam là để kiểm tra sinh viên PhD có “đủ kiến thức cơ sở để làm nghiên cứu” và “có biết cách suy nghĩ như một nhà nghiên cứu” không. Một số khoa/trường thì kết hợp cả qualification exam và preliminary exam nên yêu cầu sinh viên phải bảo vệ cả đề cương nghiên cứu của luận án. Khoa mình thì không như vậy.
Trước đây thi qual ở khoa mình khá đơn giản. Sinh viên chỉ cần làm một bài thi trong 2h, giải quyết một số bài toán kiểm tra kiến thức cơ sở (ví dụ như ngành software engineering của mình thì thi về nguyên lí hệ điều hành, thuật toán, phân tích hệ thống). Khi mình mới sang thì khoa chỉ có duy nhất hình thức thi này, vì thế nên mình chủ quan, không thi ngay vào kì Spring 2008.
Tuy nhiên, thi qual như vậy chỉ trả lời được câu hỏi “nghiên cứu sinh đủ kiến thức cơ sở để làm nghiên cứu” không? Và câu trả lời cũng khá phiếm diện, vì làm sao có thể kiểm tra kiến thức cơ sở trong nghiên cứu của lĩnh vực hẹp chỉ trong 2h và vài bài toán (thường phải khá đơn giản để làm được trong 2h). Một sinh viên ôn tập chăm chỉ các nội dung cần thiết trong một vài ngày và làm bài cẩn thận là có thể qua được qual dễ dàng. Vì thế nên hội đồng khoa họp và thảo luận với nhau thay đổi cách thi, nhấn mạnh vào việc kiểm tra sinh viên “có biết cách suy nghĩ và làm việc như một nhà nghiên cứu” không.
Trong cách thi mới, mỗi sinh viên sẽ phải thực hiện và viết report/paper về một original research, present và discuss về research đó trước một hội đồng. Như vậy, khi thi qual, nghiên cứu sinh phải thực sự tiến hành nghiên cứu một vấn đề cụ thể với đủ các bước: tìm bài toán (problem formulation) + đưa ra lời giải (solution design) + cài đặt thử nghiệm (implementation) + kiểm định (evaluation) + viết paper/report (verbal presentation) + trình bày (oral presentation) + bảo vệ (discussion). Tất nhiên hội đồng không yêu cầu cao về mức độ hoành tráng của problem hay solution. Họ chủ yếu muốn kiểm tra khả năng tư duy (thinking), khả năng trình bày (communicating) và các kiến thức cơ sở (background) liên quan đến research đó. Ví dụ, họ thường hỏi: Tại sao bạn giải bài toán A đó (tức là muốn hỏi motivation của research)? Có người đã giải bài toán B tương tự rồi, sao bạn còn giải A (tức là muốn hỏi novelty/originality của research). Sinh viên phải chỉ ra A khác với B như thế nào, ví dụ: challenging hơn, ở một domain khác nên có characteristics khác và sự khác biệt đó là đáng kể. Nếu sinh viên trả lời tốt những câu hỏi đó thì họ quay sang hỏi về kiến thức chi tiết. Ví dụ, nếu sinh viên bảo bài toán vốn là NP-hard thì hội đồng sẽ hỏi NP-hard là thế nào? Nhìn chung, qual exam kiểu này tương đương với một master thesis.
Cách thi thứ hai này thì phù hợp với mình hơn (vì mình vốn lười học, lười nhớ, thi kiểu đầu tiên dễ trượt lắm ;;). Hơn nữa, mình thực sự đã làm khá nhiều research, trải qua đủ các bước nên cũng có nhiều thứ để trình bày. Tuy nhiên do lười biếng nên mãi đến kì này mình mới đăng kí thi. Để đảm bảo chắc ăn, mình chọn công trình tốt nhất của mình, graph-based mining of usage patterns: được publish ở hội nghị top, được award và được luyện tập nhiều. (Mình đã trình bày bài này ít nhất 3 lần – ở FSE, ở VEF 2010 và ở student seminar).
Vậy mà bắt đầu cũng không suôn sẻ lắm. Nguyên nhân chủ yếu là mình chưa điều chỉnh tốt với các nhóm audience khác nhau. Ở 3 chỗ trên, đối tượng của mình chủ yếu là sinh viên với kiến thức và mối quan tâm khá phân tán, vì vậy nên mình thường nhấn mạnh vào motivation và dùng cách diễn đạt informal cho dễ hiểu. Tuy nhiên đối tượng lần này của mình lại là các giáo sư. Đặc biệt có Dr. Kothari là người có thói quen tư duy rất “toán”, yêu cầu mọi thứ cần phải được định nghĩa chính xác trước khi chuyển sang bước tiếp theo. Vì thế nên ngay trong motivation, khi mà mình trình bày với một số thuật ngữ informal (ví dụ usage scenario, object interaction), ông ấy đã hỏi mình tới tấp về định nghĩa cụ thể cho từng khái niệm đó. Mình và ông ấy mất một thời gian khá lâu để diễn giải từng khái niệm theo cách hiểu của mình và của ông ấy.
Trong chuyện này mình rút ra một kinh nghiệm như sau. Giả sử có hiện tượng X, mình gọi là A, ông ấy gọi là B. Ông ấy không hiểu A là X, mà hiểu A là Y khác X. Thay vì cố gắng giải thích A là X theo cách mình hiểu thì mình có thể dùng luôn B để gọi X theo cách của ông ấy trong các phần tiếp theo, không dùng A nữa. Mình nên làm thế vì bản chất của communication là truyền đạt ý tưởng: mục đích cuối cùng là để 2 cùng phải hiểu về X. Mọi chuyện sẽ trở nên bế tắc hoặc rối rắm hơn nếu cả 2 bên vẫn cứ tranh luận A là gì, B là gì, X là A hay B thì mới đúng. Trong khi nếu mình dùng B để gọi X thì ông ấy hiểu X dễ hơn, vì ông ấy có định kiến “B là X, A là Y” rồi. Phá vỡ một định kiến rất khó, hơn nữa chưa chắc cách mình gọi X là A đã chính xác. Tất nhiên, nếu mình vẫn muốn giữ quan điểm của mình là dùng A để gọi X, thì mình phải mô tả X trước, sau đó phát biểu là từ bây giờ X sẽ được gọi là A (chính là yêu cầu phải định nghĩa mọi thứ trước khi sử dụng của Dr. Kothari).
Nhìn chung sau khi vượt qua được cái “communication gap” do sự khác biệt về terminology này thì mọi chuyện suôn sẻ, tiến hành vui vẻ. Mình được cả hội đồng khen là good job và cho pass luôn. (So với mọi người trong lab thì mình may mắn hơn vì hai bạn khác không pass ngay trong lần thi đầu tiên – chủ yếu là do vấn đề communication với hội đồng). Mình đang tính xem không biết có nên tiếp tục đà may mắn này thi prelim trong kì Fall 2010 và final trong kì Spring 2011 để tốt nghiệp sớm không ;).
Tin vui đón Xuân
Sắp đến Tết, mình có 2 niềm vui để mừng Xuân. Niềm vui lớn vẫn là chuyện paper. Hồi đi hội nghị VEF về, mình chỉ còn 1 ngày để hì hục hoàn thành nốt 2 short paper nộp cho phần New idea của ICSE. Cuối cùng vẫn được nhận 1 paper, tỉ lệ 25% (19 bài trên tổng số 76).
Cả 2 paper đều được được khen là bài toán interesting và important + cách trình bày tốt + kết quả cuối cùng sẽ useful (đây là các paper trình bày new idea nên mới có ý tưởng, chưa có kết quả cuối cùng). Tuy nhiên một paper không được nhận vì “this is a packed paper, more suitable to a full 10 page submission (or a couple of them)”, “this paper is not very well suited for a venue like NIER” . Tức là paper chứa qúa nhiều idea, cả cũ cả mới kết hợp với nhau, lại được gói gọn trong có 4 trang nên các reviewer thấy không phù hợp cho phần new idea. Nhìn chung họ trông đợi trong phần này paper cần trình bày một “promising and underexplored idea”, “little more detail at the expense of fewer features”. Đây là một kinh nghiệm tốt để viết các paper cho new idea: mình cần mô tả chi tiết về bài toán, nhấn mạnh mức độ quan trọng và mới mẻ của nó. Ví dụ như paper được nhận của nhóm mình gồm một empirical study với các thống kê chi tiết + các example/case study hấp dẫn.
Niềm vui thứ 2 liên quan đến cu “học trò” Trần Hoàng Hiệp của mình. Thằng bé khoe nhận được “Dean’s List Honor” do được GPA 3.8. Từ ngày sang đây ngoài làm RA cho giáo sư thì mình còn làm thêm một job nữa là free tutor cho mấy đứa nhóc ở đây nữa. Trong 3 đứa chịu khó đến tầm sư học đạo là Hiệp, Nhật, Trọng thì cu Hiệp hay hỏi bài “thầy Tùng” nhất. Thằng bé rất chăm chỉ học hành và chịu khó học hỏi nên kết quả ngày càng tiến bộ. Mình thấy cũng vui cho thằng em và có chút tự hào.
Kiến thức càng nhiều thì càng kiếm được ít tiền
Hôm trước được em Rotor trong hội VEF 07 share cho định lí trên. Chứng minh như sau:
Như ta biết:
Power = Work/Time
Tức là năng suất (sức mạnh) đo bằng lượng công việc làm được chia cho thời gian thực hiện. (Trong Vật lí thì công suất = công/thời gian)
Mà
Knowledge is Power (tri thức là sức mạnh)
và
Time is Money (thời gian là tiền bạc).
Nên thay vào công thức ta có:
Knowledge = Work/Money
hay
Money = Work/Knowledge
Nói cách khác: làm cùng một việc, kiến thức càng nhiều thì tiền kiếm được càng ít.
Vậy có nên học PhD tiếp không nhỉ??? Các cụ cũng dạy “Văn hay chữ tốt không bằng thằng dốt lắm tiền” ;;).
Tranh vui và lời hay ý đẹp
Đôi khi mệt mỏi với công việc research, mình thường vào PhDcomics.com để xem tranh giải trí. Trang này có nhiều tranh biếm hoạ về chuyện học và chuyện đời của các PhD student như bọn mình. Ví dụ như bức này, viết về “Khát vọng” của PhD student.

- Đầu năm thứ nhất: Giành giải Nobel.
- Cuối năm thứ nhất: Tạo ra một cuộc cách mạng trong ngành
- Đầu năm thứ hai: Làm giảng viên ở một trường đại học hàng đầu
- Đầu năm thứ ba: Sẽ có việc làm
- Giữa năm thứ tư: Được dự một conference
- Đầu năm thứ năm: Hi vọng họ sẽ có free pizza (ở lễ đón tiếp sinh viên mới)…
Vậy là khát vọng cứ giảm dần theo thời gian. Bây giờ mình đang năm thứ ba nên chỉ mong sẽ có việc làm sau khi tốt nghiệp ;).
Nhưng cũng không có gì phải buồn. Hôm trước một người bạn có gửi cho một cái slide, toàn lời hay ý đẹp của Dalai Lama (lãnh tụ Phật giáo Tây Tạng – đang phải sống lưu vong vì sự xâm lược của nhà cầm quyền Trung Quốc). Trong đó, có khá nhiều câu mình thấy rất sâu sắc:
- Đánh giá thành công của bạn bằng những gì bạn đã đánh mất để có được nó. (Everything has its price…)
- Hãy nhớ rằng tình yêu lớn và thành tựu lớn đòi hỏi một giá phải trả khá cao. (And I am paying for them;)
- Hãy chia sẻ kiến thức. Đó là một cách để bạn bất tử.
- Khi thất bại, đừng để mất đi bài học về sự tự trọng (Respect for yourself), sự tôn trọng người khác (Respect for the others) và trách nhiệm cho toàn bộ hành vi của mình (Responsibility for all your actions).
- Mở rộng vòng tay, chấp nhận thay đổi, nhưng không buông bỏ những giá trị đã theo đuổi (open-minded and consistent).
FYT, con người và kỉ niệm (9)
Lê Hải Yến
K5 chỉ có duy nhất Lê Hải Yến là nữ. Em sinh năm 1984, quê ở Hưng Yên. Giờ em đang ở chu du thiên hạ cùng “chàng ko béo” của em, Lê Huy Bình, cũng là một thành viên FYT.
Nét ấn tượng đặc trưng với Yến là tâm hồn lãng mạn, khả năng viết, vẽ và nói rất truyền cảm. Trong các cuộc thi, Yến thường đóng vai người dẫn chuyện cho tác phẩm dự thi. Ấn tượng nhất với tôi là cuộc thi “50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ 25/4/04”. Cuộc thi diễn ra ở Hội trường HSB của Đại học Quốc gia Hà Nội. Khi những hình ảnh tư liệu về chiến tranh được chiếu lên màn ảnh cũng là lúc giọng nói của Yến vang lên đầy cảm xúc. Tôi có cảm tưởng cả mọi người trong hội trường đều lặng đi để đặt mình trong dòng lịch sử, chiêm nghiệm và xúc động với những gian khổ và mất mát của chiến tranh.
Mặc dù ngọt ngào và lãng mạn như thế, Yến lại được phân vai một “Yến bà bà” rất tham lam và xảo quyệt trong tác phẩm điện ảnh “Thư mã tranh hùng” mà K5 dành tặng FYT trước khi trưởng thành. “Thư mã tranh hùng” kể về một môn phái toạ lạc trên đỉnh HITC (cơ sở của FYT ngày đó). Các đệ tử của môn phái này do cách luyện tập võ công khác nhau mà chia làm hai phe. Phe “Code công” thích thực hành, suốt ngày lập trình, code và code. Phe “Book công” thì ngược lại, chỉ thích đọc sách lí thuyết thuật toán. “Yến bà bà” là tiểu muội duy nhất, thay vì gắn kết thì lại tìm cách chia rẽ hai phe và thủ lợi về mình bằng cách sang bên này nói xấu bên kia rồi bán bí kíp võ công cho cả hai. Kết quả là hai phe vét sạch túi mua những bí kíp cao siêu nhất, từ Sư tử hống tới Đàn chỉ thần công luyện tập và thi đấu. Sau những trận chiến bất phân thắng bại mà ngân lượng thì không cánh mà bay hết vào túi Yến bà bà, hai phe cuối cùng giác ngộ ra những chân lí tối cao của võ học “trong dương có âm, trong cương có nhu” và “núi cao còn có núi cao hơn”. Yến bà bà cuối cùng cũng hồi tâm chuyển ý, rằng “tiền bạc chỉ là phù vân, tình nghĩa mới là vĩnh cửu”. Tranh đấu kết thúc, hai phe cùng tiểu muội xin phép sư phụ xuống núi hành hiệp giúp đời.
Đây là sản phẩm công chiếu:
Đây là một số cảnh hậu trường (behide the scene của đoàn làm phim).
Hoá trang
FYT, con người và kỉ niệm (8)
Đinh Ngọc Thắng
FYT mỗi khóa thường tuyển rất đông (~ 25). Không hiểu sao K5 khoá tôi lại chỉ tuyển được 12 thành viên, và chỉ có duy nhất một thành viên nữ là Lê Hải Yến. (Có lẽ năm đó chất lượng nguồn tuyển không được cao) Trong số thành viên K5, người mà tôi thân thiết nhất là Đinh Ngọc Thắng. Một phần do 2 anh em sống gần nhau, đều ở trong khu tập thể giáo viên ĐH Sư phạm nên tôi hay qua nhà Thắng chơi. Kì cuối đang làm khoá luận mà máy tính lại bị trục trặc, tôi đã mược máy tính của Thắng để hoàn thành phần nghiên cứu. Thắng khá vui tính, nói chuyện với tôi rất hợp gu. Thành ra đi chơi với FYT, hai anh em thường bám đuôi nhau, và tham gia vào khá nhiều trò nghịch ngợm.
Ví dụ đây là một trong những trò quậy nhất của FYT. Nhất là ở giữa vùng núi non trùng điệp, hùng vi, thi hứng dào dạt. Tuy nhiên, các bạn đừng vội chê trách chúng tôi thiếu lịch sự. Chỉ nghịch thôi, không ai làm gì ô nhiễm môi trường đâu :)

FYT đã từng đến thăm nơi đây (bắt chước Tôn Ngộ Không)

Đồng chí mà không đồng hướng :)

Em Thắng: Cho 2 cốc bia. Anh Tùng: Bốn đi!
Thắng là một trong những sinh viên xuất sắc nhất mà tôi từng biết. Thành tích thời phổ thông của em là Huy chương Tin học Quốc tế. Vào ĐH em học ở lớp tài năng khoa Công nghệ, ĐH Quốc gia. Thỉnh thoảng thấy em khoe có công trình nghiên cứu đạt giải của trường. Rồi em còn nhận nhiều thành tích khác, chẳng hạn như nhận học bổng Microsoft do đích thân Bill Gates trao tặng, và tốt nghiệp top rank trong khoa. Không hiểu sao, em không gặp may mắn trong kì thi tuyển của VEF vì không qua được vòng phỏng vấn. Muốn làm việc với em nên tôi động viên em apply vào khoa tôi đang học và lobby giáo sư của tôi nhận em làm nghiên cứu sinh. Mọi chuyện thuận lợi, em nhận được admission của trường tôi nhưng cuối cùng em chọn đến học ở Florida nắng gió nhiệt đới. Mặc dù hơi tiếc vì được làm việc chung với em nhưng tôi vẫn mừng vì em chọn được nơi phù hợp với sở thích trong nghiên cứu của mình.
Ngoài thành tích học tập, điều làm tôi thích thú hơn ở Thắng là khả năng viết lách rất tốt của em. Những bài viết của em đọc rất thú vị, vừa có những câu triết lí sâu sắc, vừa có những đoạn rất hài hước, vui nhộn. Tôi không còn nhớ hay còn giữ một bản văn cụ thể nào em viết. Nhưng tôi vẫn nhớ không khí đêm FYT sinh hoạt ngoài trời ở Sa Pa (năm 2005). Cả nhóm ngồi cạnh một hồ nước trong veo, thắp nến, nướng mực, uống rượu và đọc cho nhau nghe những tác phẩm của cuộc thi viết vừa tổ chức để trao giải. Bài của Thắng tất nhiên giành giải cao và tôi đã lắng nghe một cách thích thú. Sau đó thì cả nhóm lại hát hò ầm ĩ, và tất nhiên, các tác phẩm truyền thống lại được biểu diễn một cách phấn khích. Chuyến đi Sa Pa này là một trong những kỉ niệm đẹp với FYT. Một kỉ niệm đáng nhớ là trên chuyến tàu từ Lào Cai về Hà Nội, do trục trặc ở khâu mua vé nên FYT phải chia làm đôi, một nhóm về trước, một nhóm về sau. Kết quả là trong thời gian chờ đợi, các chàng FYT nhà ta lại ngả chiếu bạc ra chơi ngay cạnh đường tàu :).
Thắng hát cũng rất hay. Một kỉ niệm khác của tôi, có liên quan đến chuyện hát hò với Thắng là chuyến đi Phong Nha (Quảng Bình) năm 2006 của FYT. Lúc đó tôi đang dạy một lớp đại học tại chức ở Quảng Bình nên có điều kiện tham gia cùng. Chuyến đi này cũng là một kỉ niệm rất vui và đáng nhớ. Cả nhóm đi thuyền vào thăm Phong Nha, xuống tắm biển và chơi bóng ở bãi biển Nhật Lệ. Buổi đêm ở Đồng Hới thì kéo nhau đi hát Karaoke. Không quen địa hình nên cả nhóm đi bộ rất lâu mà không tìm được phòng hát, cuối cùng đành cầu viện chị Kim Anh (chị từng là thư kí của FYT một thời gian trước khi trở về Quảng Bình theo tiếng gọi của tình yêu). FYT thi hát tính điểm. Tôi đăng kí bài tủ “Chân tình” của mình, thực hiện đúng thủ thuật thi hát tính điểm của Karaoke: hát to, đúng (lên xuống, ngắt nghỉ chuẩn) để cộng hưởng cùng tần số với nhạc. Kết quả bài hát của tôi đạt 98đ. Thắng có lẽ cũng biết tip tương tự nên cũng có kết quả giống tôi. Hai anh em chia nhau giải nhất và trong buổi liên hoan cuối cùng đã đem toàn bộ giải thưởng ra mua bia.
Đó là bữa say tuý luý nhất của tôi từ trước đến nay. Tôi vẫn nhớ sau một hồi chúc tụng và ăn uống, tiệc dần tan thì nhóm 4 con sâu đầy tâm sự gồm Chiến, Khánh, Quỳnh và tôi quây lại một bàn. Bốn anh em từ buổi trưa đến chiều tiêu thụ được khoảng 60 chai bia Hà Nội. Chàng nào cũng đầy tâm sự, toàn là chuyện tình cảm bi đát, nên thành ra uống rất vào, nói rất nhiều, rồi say lúc nào không biết. Rất may là không có hậu quả “thực sự nghiêm trọng” nào xảy ra. Hậu quả tệ hại nhất là tạo cơ hội cho mấy cái chăn của khách sạn được giặt giũ.
Bia bọt và tâm sự để anh em hiểu nhau hơn cũng là một “truyền thống tốt đẹp” của FYT.
FYT, con người và kỉ niệm (7)
Đỗ Trung Thông
FYTer thứ ba để lại nhiều ấn tượng cho tôi trong thời gian đầu mới tham gia FYT là anh Đỗ Trung Thông. Anh sinh năm 1980, có lẽ là trai Hà thành. Trông anh rất manly: cao to như Tây, râu ria xanh rì, khuôn mặt thông minh luôn toát lên vẻ lạnh lùng, cộng thêm cặp kính rất trí thức và nụ cười lady killer. Tôi tự hỏi vì sao gần tuổi băm mà theo thông tin trên Facebook profile – anh vẫn single.
Anh là thành viên khoá 3, khi tôi vào FYT cũng là lúc các anh đang chuẩn bị làm lễ trưởng thành. Tuy vậy, tôi luôn thấy anh lên trung tâm, hì hụi với cái máy tính. Hỏi chuyện mới biết anh được nhận học bổng VEF (Vietnam Education Foundation fellowship) và đang chuẩn bị hồ sơ (application packages) để xin học ở các trường ĐH của Mỹ. Hồi đó (năm 2003), truy cập internet còn rất hạn chế mà việc điền admission application form online rất tốn thời gian. Đó là lí do vì sao anh cứ hì hụi với cái máy tính ở trung tâm suốt mấy tuần.
Sau quãng thời gian anh không còn sinh hoạt ở FYT nên tôi ít có dịp gặp và trò chuyện cùng anh. Nhưng những thông tin ban đầu về học bổng VEF mà anh cung cấp cho tôi rất có giá trị. Bởi vì trước đó, mặc dù đã có nguyện vọng ra nước ngoài học sau đại học, tôi hoàn toàn chưa xác định được mình sẽ học ở đâu và làm thế nào để xin được học bổng. Chương trình học bổng VEF, bắt đầu từ năm 2003, có thể coi là một cơ hội rất tốt và cạnh tranh dành cho các sinh viên Việt Nam xin học sau đại học ở các trường hàng đầu của Mỹ. Khởi đầu may mắn từ anh, FYT sau đó cũng có khá nhiều thành viên cũng giành được học bổng này. Những người tôi biết, ngoài anh và tôi ra, còn có anh Hoàng Mạnh Quang, bạn Nguyễn Ngọc Bảo, em Lê Huy Bình và em Nguyễn Việt Hưng. Có thể còn một số thành viên nữa mà tôi không nắm được thông tin.
Chúc chàng “Lý Thông” của chúng ta mau hoàn thành nghiệp học để “vơ lấy tội”. Anh cứ single với nụ cười lady killer này thì còn nhiều em gái chưa thể lấy chồng :).



